Hotline: (0258) 3813 758

ĐÌNH HỘI PHÚ

03/07/2018 09:56        
Đọc tin

Đình Hội Phú tọa lạc tại thôn Hội Phú Bắc 1, xã Ninh Phú, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
* Nguồn gốc của di tích
Làng Hội Phú được thành lập vào cuối thế kỷ XVIII, lúc bấy giờ làng chỉ có 2 thôn là Hội Phú Nam và Hội Phú Bắc. Sau ngày miền Nam hoàn toàn thống nhất, để thuận lợi cho việc quản lý nên làng lại chia thành Hội Phú Nam 1, Hội Phú Nam 2, Hội Phú Bắc 1, Hội Phú Bắc 2.

Về niên đại xây dựng đình, căn cứ vào sắc phong sớm nhất mà đình Hội Phú còn lưu giữ vào triều vua Thiệu Trị năm thứ 03 (1843), cho phép ta có thể đoán định niên đại khởi dựng đình vào vào đầu thế kỷ XIX.

Trải qua thời gian, đình Hội Phú đã xuống cấp và được nhân dân tiến hành tu bổ, tôn tạo vào các năm: 1954, 1973, 1977, 2007.

Đình Hội Phú được dựng lên để thờ Thành Hoàng làng, Nghiêm khác, Ôn nhã, Thanh ứng Mẫn thông Hạo sảng Trác vĩ Dực bảo trung hưng Thượng đẳng thần, Tiền hiền, Thần Nông Diệu đế, Thổ địa, Chúa Đông, Chúa Xứ, Ngũ hành thần nữ, Thiên Y A Na, Thái Giám Bạch Mã, âm linh chiến sĩ trận vong…

* Kiến trúc của di tích
Đình Hội Phú nằm có bố cục theo kiểu chữ “Nhất” (一), mặt tiền nhìn về hướng Nam. Từ ngoài vào trong, đình có bố cục mặt bằng tổng thể gồm các đơn nguyên kiến trúc: Nghi môn, Án phong, Chính điện, nhà Tiền hiền.

Chính điện của đình Hội Phú

Điểm nổi bật trong kiến trúc đình Hội Phú là ở Chính điện với hệ thống cột cái hình vuông, vì nóc kết cấu theo kiểu vì kèo, hệ thống linh vật: Long, lân, quy, phụng, hổ, dơi… được các nghệ nhân khai thác triệt để. Hình ảnh tứ linh thể hiện dưới nhiều hình dạng như “Long vân khánh hội”, “Lưỡng long chầu nhật”…, được trang trí trên mái đình để cầu cho mưa thuận gió hòa đối với nông nghiệp hay hình ảnh “Bát tiên quá hải” nhằm mang lại sự trường thọ, tài-lộc, sức khỏe, tiền bạc và công danh cho dân làng.

Hiện nay, đình Hội Phú hiện còn bảo lưu được 07 đạo sắc phong của các vua triều Nguyễn ban tặng:
- Sắc phong ngày 13 tháng 8 triều vua Thiệu Trị năm thứ 03 (1843)
- Sắc phong ngày 11 tháng 9 triều vua Thiệu Trị năm thứ 03 (1843)
- Sắc phong ngày 08 tháng 11 triều vua Tự Đức năm thứ 03 (1850)
- Sắc phong ngày 08 tháng 11 triều vua Tự Đức năm thứ 33 (1880)
- Sắc phong ngày 01 tháng 7 triều vua Đồng Khánh  năm thứ 2 (1887)
- Sắc phong ngày 01 tháng 8 triều vua Duy Tân  năm thứ 3 (1909)
- Sắc phong ngày 25 tháng 7 triều vua Khải Định  năm thứ 9 (1924)

Hàng năm, nhân dân trong thôn Hội Phú tổ chức lễ hội vào ngày 19 đến ngày 20 tháng 2 Âm lịch. Vào mỗi dịp lễ hội, đình làng Hội Phú có tổ chức hát bội nhưng không thường xuyên mà tùy thuộc vào mức đóng góp từng năm của dân làng.

Trong thời kỳ chiến tranh, đình Hội Phú là địa điểm của cán bộ hội họp,  nhân dân luyện tập võ thuật để sẵn sàng đánh giặc. Đình Hội Phú là cơ sở cách mạng  nên đã bị thực dân Pháp đốt phá làm đổ sập ngôi đình hoàn toàn vào năm 1947. Để có nơi sinh hoạt tín ngưỡng chung cho dân làng và cũng nhằm gây dựng lại cơ sở cách mạng nên dân làng đã đóng góp công sức và tiền của xây dựng lại ngôi đình vào năm 1948 tại làng Hội Phú Bắc 1 (địa điểm ngày nay).

Từ những giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể của di tích, ngày 30/12/2010 UBND tỉnh Khánh Hòa ban hành Quyết định số 3419/QĐ-UBND xếp hạng di tích đình Hội Phú là Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.

 Trần Thị Thanh Loan

                                                                         

 
Bài viết được đánh giá:
Tổng số đánh giá:
 

Tin khác

breaker
ĐÌNH BÌNH TRUNG
Đình Bình Trung hiện nay thuộc thôn Bình Trung, xã Vạn Bình, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa (vào thời Nguyễn là một phần đất của Bình Sơn xã, thuộc tổng Hạ, huyện Quảng Phước, phủ Bình Hòa)[1], nằm cách thĐình Bình Trung tọa lạc trên một khu đất địa thế đẹp, không gian thoáng mát giữa khu dân cư, có diện tích 910.4m2, đình quay hướng Nam.ành phố Nha Trang 63km về hướng Bắc.
CHÙA THANH TRIỀU
Chùa Thanh Triều được khởi dựng vào năm Kỷ Mão (1819) do một số người Việt gốc Hoa đứng lên xây dựng, để thờ Quan Thánh Đế quân, vị thánh được thờ ở nhiều nước phương Đông, có sự giao thoa, tiếp biến với văn hóa Trung Hoa như: Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam... Ngài biểu tượng cho nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho lòng danh dự, dũng cảm trung thành. Ngoài ra, di tích còn thờ tướng quân Châu Xương và hoàng tử Quan Bình.
ĐÌNH BÌNH TÂN
Đình Bình Tân, có niên đại khoảng đầu thế kỷ XIX là một trong những ngôi đình cổ trên vùng đất Khánh Hòa nói chung và vùng đất Nha Trang nói riêng. Di tích tồn tại cùng với lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất ven sông Bình Tân (cửa Bé). Ngôi đình như là một minh chứng cho sự tồn tại của làng Bình Tân, trong đó hội tụ hầu như đầy đủ những giá trị văn hóa mà ông cha ta đã sáng tạo và lưu truyền cho hậu thế.
MIẾU QUAN THÁNH
Miếu Quan Thánh do những người Việt gốc Hoa vùng Quảng Đông (Trung Quốc) sang sinh sống và làm ăn tại Diên Khánh xây dựng lên. Nơi định cư của người Hoa sớm nhất ở Diên Khánh là Thanh Minh (xã Diên Lạc), sau họ chuyển xuống khu vực Thành.
ĐÌNH PHƯỚC ĐA
Đình Phước Đa tọa lạc trong khu đất có tổng diện tích 2.574,6m2, mặt tiền của đình quay về hướng Nam. Từ ngoài vào trong, đình Phước Đa có bố cục mặt bằng tổng thể như sau: Nghi môn, Án phong, miếu Ngũ hành, miếu Sơn Lâm, Chính điện, nhà Đông, nhà Tây, miếu Tiền hiền.
ĐÌNH PHONG ẤP
Đình Phong Ấp tọa lạc trong khu đất có tổng diện tích 4.060 m2, mặt tiền quay về hướng Nam. Từ ngoài vào trong, đình Phong Ấp có bố cục mặt bằng tổng thể như sau: Nghi môn, trụ cờ, Án phong, ban thờ Thần Nông, miếu Khải (miếu Ông Địa), Đại đình (Tiền tế-Chính điện), nhà trù (nhà bếp). Đình Phong Ấp thờ các vị sau: Thiên Y A Na Thánh Mẫu, Bổn cảnh Thành Hoàng, Ngũ Hành thần nữ, Tiền hiền, Thổ công, Thần nông.
ĐÌNH ĐẠI CÁT
Đình Đại Cát được xây dựng trong khuôn viên có tổng diện tích 6.410m2, xung quanh trồng cây cổ thụ và các loại cây ăn trái, cây cảnh. Từ ngoài vào trong, đình Đại Cát gồm các hạng mục công trình sau: Nghi môn, Án phong, sân đình, Chính điện, nhà Đông, nhà Tây, nhà bếp và nhà hậu.
ĐÌNH ĐIỀM TỊNH
Đình Điềm Tịnh ra đời, tồn tại gắn liền với những lần thay đổi mảnh đất và con người làng Điềm Tịnh ngày nay. Thuở mới lập, làng có tên là Xuân An xã; đến triều vua Thiệu Trị, làng đổi tên là làng Điềm An; sau đó, làng lại tiếp tục đổi thành làng An Thạch Đông; sau một thời gian đổi thành làng Điềm Tĩnh; đến triều vua Tự Đức, làng có tên gọi là làng Điềm Tịnh[1].
ĐÌNH ĐẠI TẬP
Căn cứ trên đạo sắc phong sớm nhất mà đình Đại Tập được vua Tự Đức ban tặng cho đình vào năm 1852, ta có thể đoán định đình Đại Tập có niên đại vào cuối thế kỷ XVIII. Năm 1810, đình có tên là An Tập. Đến năm 1817, đình được đổi tên thành Đại Tập.