Ai về xóm Bóng quê nhà
Hỏi xem điệu múa dâng Bà còn không?
Thế thường tre lụn còn măng
Lẽ đâu tham đó bỏ đăng cho đành...
Lên đồng (hầu bóng) là một nghi lễ đặc trưng của tục thờ Mẫu ở nước ta. Những năm chiến tranh cho đến những năm 1990, vì nhiều lý do, nghi lễ lên đồng (hầu bóng) không được công khai thực hành và bị mai một nhiều. Nhưng từ đầu thế kỷ XXI đến nay, cùng sự phát triển của kinh tế - xã hội, với các chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước về văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, đặc biệt là năm 2016, di sản văn hóa Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, nghi lễ lên đồng (hầu bóng) đã được quan tâm khôi phục, phát triển trở lại và được trình diễn trong các lễ hội ở các di tích/cơ sở tín ngưỡng thờ Mẫu hoặc sân khấu hoá để phục vụ nhu cầu tín ngưỡng tâm linh của nhân dân.
Nghi lễ lên đồng (hầu bóng) phản ánh đặc trưng văn hóa của người Việt chọn lọc những tinh hoa trong quá trình giao thoa tiếp biến văn hóa, từ âm nhạc, ngôn ngữ, tri thức dân gian, ca hát, nhảy múa, nghề thủ công truyền thống, trang phục cùng với nghệ thuật trang trí, kiến trúc, ẩm thực... Lên đồng (hầu bóng) là nghi lễ hầu đồng gắn với hát văn hay hát chầu văn, múa bóng do các thanh đồng, ban cung văn và người hầu dâng thực hiện trước các ban thờ ở các đền, điện, phủ, miếu … gắn với tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu.
Nghi lễ lên đồng (hầu bóng) còn được gọi là Hát văn - hầu đồng, Hát văn - hầu Thánh, Bắc ghế hầu đồng, Ngự đồng, Loan giá ngự đồng… Khánh Hòa còn có sắc thái riêng là nghi lễ múa bóng, còn được gọi là múa dâng bông, cũng là một nghi lễ quan trọng gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu. Một lễ hầu gồm có những thanh đồng (ông/bà/cô đồng), ban văn (ban nhạc, hát), tứ trụ hầu dâng (4 người phụ giúp việc cho thanh đồng trong khi hầu), ban hương đăng, đệ tử và ở Khánh Hòa tập trung chủ yếu ở đồng bằng.
Do đó, ngoài nghi lễ lên đồng cũng hầu các giá giống bình diện chung của cả nước, múa dâng bông hầu Thánh ở Khánh Hòa còn có sắc thái riêng, khác hầu đồng ở miền Bắc và khác bóng rỗi ở miền Nam. Nét riêng đó được thể hiện qua nghệ thuật múa, âm nhạc, số lượng thanh đồng tham gia giá hầu...
Hầu đồng có tất cả 36 giá đồng, mỗi giá thờ một vị Thánh, nhưng một buổi hầu không phải bao giờ cũng hầu đủ 36 giá, mà thường là từ 8 đến 15 giá, tùy thuộc vào tâm nguyện của thanh đồng. Ngoài việc hầu giá (ở đây được hiểu là 1 thanh đồng hầu) như các lễ hầu khác trong cả nước, lễ hầu ở Khánh Hòa thường hầu hội đồng và múa bóng cũng múa tập thể.
Khánh Hòa có hai dạng là hầu đồng Thiên tiên và hầu cộng đồng Thiên tiên. Hầu đồng Thiên tiên có lớp lang, thanh đồng ra hầu tập thể theo tốp ngũ vị, tứ vị, tam vị... như: Ngũ vị tôn Ông, tứ vị chầu Bà… mà không lẫn lộn cậu, cô, quan, chúa vào cùng một giá hầu. Khi hầu thể hiện dung mạo Mẫu nghiêm trang, Quan oai nghiêm, Hoàng ung dung, Cô mỹ miều, Cậu lí lắc. Hầu cộng đồng Thiên tiên lễ hầu có cả Cô, Bà, Cậu… cùng ra múa bóng và âm nhạc sử dụng hầu cho dạng thức này thường chỉ có nhạc đệm, nếu có lời hát thì thường dùng lời bài hầu Chúa (hát văn Thánh Mẫu).
Trong nghi lễ hầu đồng, trước mỗi lễ hầu, các đoàn hầu lễ phải chuẩn bị lễ vật, trang phục, đạo cụ trong múa hầu đồng phù hợp với từng giá hầu, phản ánh tính cách, đặc trưng của từng vị Thánh được hầu. Lễ vật và trang phục cũng phụ thuộc vào khả năng kinh tế của từng thanh đồng.
Trình tự lễ hầu thường trải qua 4 bước: Mời Thánh giáng/nhập (ca ngợi công đức, âm nhạc ngân nga, bay bổng), phán truyền, ban lộc và Thánh thăng (đưa tiễn, cung văn hát điệu xa giá hồi cung, âm nhạc sôi động, náo nhiệt). Mở đầu mỗi lễ hầu, trưởng đoàn (là thanh đồng có nhiều kinh nghiệm, có uy tín) đăng đàn cúng Phật, Thánh xin khai hầu, sau đó các thanh đồng mới hầu đồng/múa bóng. Mở đầu là các giá giáng đồng của Thánh Mẫu (ba giá Thánh Mẫu gồm Mẫu Đệ Nhất, Mẫu Đệ Nhị và Mẫu Đệ Tam). Ba giá Thánh Mẫu chỉ giáng chứ không nhập đồng (còn gọi hầu trùm khăn hay hầu tráng bóng). Tiếp theo đó, thanh đồng có căn Đức Thánh nào thì hầu giá Đức Thánh đó.
Trình tự múa bóng: Khai hầu - hầu - tạ. Đầu tiên, hổ giao sân, yết kiến Mẫu (đọc khai mạc; trưởng đoàn đứng đầu, Quan và thánh Bà đứng hai hàng phía sau), múa hầu, đọc bế mạc. Khi được Mẫu chứng hay Thánh giáng/nhập thì các thanh đồng mới thực hiện hầu đồng, múa bóng. Múa bóng dâng bông thường múa đầu tiên trong giá hầu nếu người trưởng đoàn núp bóng Chúa (căn Mẫu), bình thường thì múa dâng bông thường được múa sau giá Tôn Ông, Chầu Bà. Do đó, khi hầu ở lễ hội Tháp Bà do thời gian có hạn nên các đoàn thường hầu đồng/múa bóng cộng đồng và liên tục các giá hầu theo trình tự các giá từ cao xuống thấp: Xe ba giá Mẫu, tôn Ông (hoặc hầu bổn mạng trước tôn Ông), thánh Bà, rồi tiếp tục các giá hầu thấp hơn là triều Hoàng, thập nhị triều Cô, thánh Cậu, ngoại cảnh.
Một thanh đồng đang thực hiện nghi lễ lên đồng
Thanh đồng phải có lễ trình đồng mới được bước lên từ con nhang đệ tử thành ông/bà/cô đồng và khi mới ra hầu gọi là đầu công. Ban đầu đệ tử được đồng thầy dìu dắt, chỉ bảo, được tập những bài dễ như múa đuốc, sau thời gian thì học dần các bài múa giá hầu khác. Thanh đồng múa bóng phải có căn, có Bà đỡ mới được Thánh giáng/nhập để hầu đồng, múa bóng.
Trang phục của thanh đồng trong nghi lễ hầu đồng rất phong phú, đa dạng, thể hiện tộc người và vùng miền mà các vị thánh đại diện, cai quản, cũng như tính cách và thị hiếu thẩm mỹ của từng thanh đồng. Trang phục chung là áo dài, khăn đóng. Màu sắc trang phục thường sặc sỡ, ví dụ múa bát tiên là nhiều màu sắc, hầu đồng/múa dâng bông Mẫu Thượng ngàn là trang phục váy thổ cẩm. Theo đánh giá của các thanh đồng do Khánh Hòa thường có lễ rước Bà múa Bóng nên giá Thánh Bà ở Khánh Hòa có trang phục đẹp hơn miền Bắc, còn giá Thánh Chúa miền Bắc có trang phục đẹp hơn. Đó là nhu cầu các thanh đồng may nhiều nên trang phục được trau chuốt, cải tiến về chất lượng và hình thức. Về đạo cụ, thường hầu triều thần tôn Ông, tôn Quan dùng pháp khí, hầu Bà che lọng, hầu các tiên Cô có quạt, lẵng hoa theo sau...
Múa đồng người ta còn gọi là múa thiêng, điệu múa được thực hiện theo cách “bóng ngã mà đi”, hay “bóng ngã đai nào đi đai đó”. Tuỳ theo sự tích, công trạng, tính cách của từng vị Thánh, thanh đồng thực hiện các điệu múa khác nhau, như múa tay không gồm: Múa bắt quyết, múa ra ấn, múa tung nước thánh, múa ban lộc; múa có đạo cụ gồm: Múa mở hay khai quang (dâng nhang, dâng đèn), múa quạt, múa kiếm, múa long đao, múa kích, múa cung, múa hèo, múa lân...
Theo các thanh đồng, ở miền Bắc chân múa nhún nhảy một điệu còn Khánh Hòa tùy giá hầu mà có bước chân phù hợp. Ví dụ: Quan đi quỳ, múa võ, hay múa dâng bông ca ngợi công ơn Bà đã dạy dân trồng trọt, chăn nuôi, dệt vải, mừng ngày đại lễ, mừng mùa màng được mùa… thì điệu múa mềm mại, uyển chuyển, nhẹ nhàng. Múa dâng bông thường múa tập thể nên phải tập luyện trước mỗi lễ hầu để múa cho đều và đẹp. Các bài múa dâng bông gồm: Dâng đuốc, dâng trầm, dâng hoa, dâng quả, dâng thủy, dâng tửu, dâng trầu, dâng tháp và điệu múa theo nội dung mà người múa đội hoặc cầm để múa, như đuốc cầm ở tay, lẵng hoa có thể cầm tay hoặc đội đầu, còn đa số là đội đầu các mâm lễ múa dâng Mẫu. Múa tháp và múa đèn được coi là khó nhất vì tháp nhẹ và cao dễ bị rơi, còn đèn đốt cháy sáng đội trên đầu và được cầm cả 2 tay nên chỉ những thanh đồng đã múa hầu dâng lễ nhiều năm mới có thể tập những bài này và trình diễn uyển chuyển, uốn lượn mềm mại, nhẹ nhàng mà không bị rơi mâm trên đầu. Do đó, những bài múa dâng Mẫu hầu tập thể đông cũng thường không múa đuốc, đèn hay mâm quả. Những bài múa tập thể được tạo hình xếp dàn hàng ngang, hàng dọc hay hình tam giác, hình vuông, hình tròn, hình chữ X, chữ V… Số lượng người múa đông hay ít tùy vào sân khấu hầu rộng hay chật và số người tham gia thường đi theo cặp chẵn tạo sự đăng đối. Một lễ hầu đa số là nữ, nếu có nam tham gia đội múa dâng bông cũng chỉ có từ 1 đến 2 người và cũng mặc trang phục như nữ.
Ban cung văn phục vụ trong mỗi lễ hầu đồng thường có từ 03 đến 05 nhạc công, sử dụng đàn nguyệt, trống ban (trống con), phách, cảnh, thanh la và 01 đến 02 người hát chầu văn. Ban cung văn phải quan sát giá hầu, luôn nhạy bén xử lý kịp thời và phù hợp với các hành động của thanh đồng để tạo sự nhịp nhàng và thăng hoa cho người hầu đồng.
Hầu đồng ở Khánh Hòa theo kiểu Huế nên ban cung văn phải làm việc liên tục do các thanh đồng thay nhau ra hầu. Khi hầu giá thanh đồng chia hai ban thay nhau chứ không hầu khăn phủ diện (lấp khăn đồng) như miền Bắc. Do đó, các thanh đồng thường mặc sẵn trang phục giá hầu rồi mới ra lễ hầu để Thánh giáng/chứng và hầu các giá tuần tự như trên. Hầu khăn phủ diện là thanh đồng ngồi vào giữa bốn người hầu dâng và được người hầu dâng trùm lên đầu một tấm khăn màu đỏ, gọi là khăn phủ diện và Thánh nào giáng/nhập thì thanh đồng ra hiệu cho hầu dâng để mặc trang phục giá hầu đó rồi bắt đầu giá hầu. Vì vậy, hầu kiểu miền Bắc thì ban cung văn có thời gian nghỉ khi thanh đồng thay đồ chuẩn bị cho giá hầu khác, còn khi hầu kiểu Huế thường ban cung văn phải có hai người hát để thay phiên nhau nghỉ ngơi lấy sức cho những lễ hầu đồng hầu nhiều giá có thời gian kéo dài.
Hát chầu văn có nhiều hình thức khác nhau gồm: Hát thờ, hát cửa đền, hát hầu, hát thi. Tuy nhiên, ở Khánh Hòa chủ yếu hai hình thức là hát thờ và hát hầu, diễn ra trong các giá đồng của ở các cơ sở tín ngưỡng thờ Mẫu và tập trung nhất vào tháng Ba Âm lịch (“Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”).
Âm nhạc hát chầu văn nhịp điệu và tiết tấu có chậm, vừa và nhanh. Làn điệu hát văn có tiết tấu rõ ràng, giai điệu âm nhạc trong sáng, với các nét sắc thái của âm hưởng ca trù, dân ca đồng bằng Bắc Bộ, ví dặm, hành vân... Một số làn điệu cơ bản của hát văn gồm: Vỉa (thường ở giai đoạn bắt đầu, lời văn thể lục bát), bỉ, miễu, thống, phú, kiều dương, dọc, cờn, xá, hãm, hay các điệu lưu thuỷ, dồn, bỏ bộ…
Lời hát văn hoàn toàn bằng thơ, thường có hình thức thể thơ lục bát và song thất lục bát. Lời hát chầu văn múa bóng Khánh Hòa giống Huế, gọi là hầu mạnh, giọng đãi hơn. Lời bài hát văn ở đây như nhau, chỉ khác cách hát mạnh mẽ, âm nặng mà không ngân nga, lảnh lót như miền Bắc. Ở miền Bắc hầu nhẹ, tức là mỹ miều, nhẹ nhàng, bay bổng, ngân nga hơn. Ở Khánh Hòa, múa dâng bông lời hát lấy từ truyện thơ Thánh Mẫu, kinh văn Mẫu “Địa Mẫu chơn kinh” đã trở thành lời và tên các bài hát múa dâng Mẫu, như: Trầm hương quê mẹ (múa chén), Dâng đuốc thiêng (múa đuốc) … Ngoài ra, một số đoàn có thanh đồng căn Phật - Thánh - Tiên (Tịnh độ - Tứ phủ - Tu Tiên) nên âm nhạc múa bóng sử dụng theo nhạc thiền Phật giáo, chầu văn và nhạc không lời, để các thanh đồng có căn nào ra hầu đồng theo âm nhạc đó.
Lễ hội Tháp Bà Ponagar - Ảnh: Tư liệu
Người dân Khánh Hòa đã tiếp tục gìn giữ Tháp Bà Pô Nagar như một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh. Từ một Nữ Thần mẹ Xứ sở của người Chăm được người Việt phiên âm gọi là Thiên Y A Na Thánh Mẫu. Múa bóng của người Chăm có bà Bóng, thầy kanhi kéo đàn, người gõ trống, người hát thánh ca, có phán truyền của Pô Inư Nagar cũng nằm trong mẫu số chung của tín ngưỡng thờ Nữ thần, Mẫu thần.
Chính vì vậy, có lẽ múa dâng bông là nghệ thuật duy nhất mà múa bóng Khánh Hòa còn giữ lại một chút từ việc biến tấu cái gốc múa bóng của người Chăm. Với cách múa đội đầu các lễ vật dâng Thánh, để khi được Thánh nhập các thanh đồng nhảy múa, lắc lư tưng bừng theo điệu nhạc mà mâm lễ dù nặng hay nhẹ, cao hay rộng cũng được dính chặt ở trên đầu thanh đồng như một chất keo kết dính vô hình.
Khánh Hòa đã làm tròn sứ mệnh là chiếc cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, giữa hầu đồng miền Bắc với múa bóng rỗi miền Nam, nơi múa bóng có tính xiếc và tạp kỹ. Ở đây là sự dung hòa nhẹ nhàng, nơi giao thoa tín ngưỡng bản địa, tích hợp các hình thức văn hoá dân gian khác nhau.
Tuy nhiên, nghi lễ lên đồng ở Khánh Hòa vẫn còn mang tính tự phát nên cần có sự ra đời những hình thức sinh hoạt của câu lạc bộ để chầu văn có “lớp học” riêng nhất là về âm nhạc, điệu múa nhằm bảo tồn và phát huy giá trị riêng có của múa bóng Khánh Hòa. Các hội viên trao đổi, giao lưu, học hỏi lẫn nhau và truyền dạy từ các nghệ nhân, thanh đồng. Tham gia lớp học không chỉ giúp học viên thỏa mãn được niềm đam mê mà còn trau dồi thêm những kiến thức quý báu, góp phần giữ gìn nghệ thuật chầu văn đi theo hướng “đúng chuẩn” vốn có của nó. Đặc biệt, lớp học cũng cần chú trọng đến việc phát hiện và bồi dưỡng những tài năng trẻ, nhất là đối với nghệ thuật hát chầu văn.
Trong nghi lễ lên đồng của người Việt, các hình thức biểu đạt, động tác múa, âm nhạc và lời hát văn đều mang dấu ấn lịch sử, ghi lại sự tích và ca ngợi công đức của những nhân vật lịch sử có công với dân, với nước. Yếu tố “sân khấu hóa” kết hợp chặt chẽ với yếu tố tâm linh, phản ánh tư duy, nhận thức về tự nhiên, xã hội của cộng đồng. Tín ngưỡng thờ Mẫu vừa thể hiện các giá trị truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", vừa được cộng đồng bảo tồn và phát huy giá trị để thích ứng phù hợp với cuộc sống. Vì vậy, nghi lễ lên đồng có sức hấp dẫn đối với mọi người, nhất là những người theo tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phủ.
Nguyễn Thị Hồng Tâm
Tài liệu tham khảo:
1. Ngô Đức Thịnh (2010), Đạo Mẫu Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội
2. Ngô Văn Doanh (2009), Tháp Bà Thiên Y A Na - Hành trình của một nữ thần, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh
4. Nguyễn Thị Hồng Tâm (2016), Thiên Y A Na Thánh Mẫu – Tháp Bà hiển Thánh, nxb Hồng Đức, in tại Nhà in Cát Thành, Nha Trang.
5. Tư liệu điền dã tháng 4 năm 2021.