Hotline: (0258) 3813 758

ĐÌNH BÍCH ĐẦM

02/07/2018 16:34        
Đọc tin

Đình Bích Đầm tọa lạc phía Đông Bắc của tổ dân phố Bích Đầm (đây là khu dân cư nằm ở phía Đông - Bắc đảo Hòn Tre) thuộc phường Vĩnh Nguyên, T.P Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Khi lập làng gọi là Đầm Môn thôn, đến năm Gia Long thứ 10 (1811) là thôn Bãi Tre, năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) đổi tên thành thôn Bích Đầm. Năm 1948, làng Bích Đầm đổi tên là Biển Hải, sau năm 1954 làng đổi tên là ấp Bích Đầm, tới năm 1975 đổi tên là khóm Bích Đầm, phường Vĩnh Nguyên, quận 2, thị xã Nha Trang. Hiện nay, là tổ dân phố Bích Đầm, phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Làng đảo Bích Đầm do những ngư dân vùng Nam - Ngãi - Bình - Phú (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) vào đây khai thác đánh bắt hải sản thành lập. Nhân dân quy tụ thành từng nhóm, từng ấp làm nghề đánh bắt hải sản… Để có một nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thờ tự những vị Thần phù trợ cho dân làng làm ăn sinh sống và những người có công khai khẩn đất đai, quy dân, lập ấp... theo các cụ bô lão kể lại, khoảng giữa thế kỷ XIX tạo dựng ngôi đình Bích Đầm.

Nhân dân nơi đây còn truyền tụng rằng: Xưa kia có bà Nguyễn Thị Mau gốc làng Hưng Lạc, tỉnh Bình Định do giận chồng, đã đưa người con trai là Trương Văn Cỏi lúc đó khoảng 9, 10 tuổi lên ghe xuôi vào Nam tới làng Phương Sài, Nha Trang, Khánh Hòa định cư. Sau ông Trương Văn Cỏi lớn lên lấy vợ là Phạm Thị Vơi người Bích Đầm, rồi đưa mẹ cùng ra sinh sống tại làng Bích Đầm. Tại đây, ông Trương Văn Cỏi đứng lên vận động và cùng nhân dân đóng góp công sức, tiền của xây dựng ngôi đình để thờ Thành Hoàng làng.

Đình Bích Đầm thờ Thành Hoàng làng, Bà Thiên Y A Na, Ông Nam Hải (cá Voi), các vị Tiền hiền, Hậu hiền… Đình còn là nơi hội họp, tổ chức các sinh hoạt văn hóa cộng đồng dân cư trong làng.

Trải qua thời gian, đình được nhân dân tu bổ nhiều lần từng phần nhỏ. Với tín ngưỡng của ngư dân vùng đất Nam Trung Bộ thờ ông Nam Hải (cá Voi) - là vị Thần Biển giúp ngư dân thuận buồm xuôi gió trong những lúc ra khơi đánh bắt hải sản. Trước kia không có điều kiện, nên nhân dân thờ ông Nam Hải, Tiền hiền - Hậu hiền chung trong chính điện với Thành Hoàng làng. Năm 2000, nhờ sự đóng góp của các nhà hảo tâm, nhân dân đã xây dựng Lăng Ông và nhà thờ Tiền hiền - Hậu hiền riêng, nằm trong khuôn viên của di tích. Năm 2002, xây dựng thêm Võ ca làm nơi hát bội cũng như hát lễ trong các ngày diễn ra lễ hội của đình. Năm 2009, đình đại trùng tu các hạng mục xuống cấp, màu sắc trang trí được tô vẽ lại khang trang hơn.

Đình tọa lạc trên khu đất rộng 540,3m2, mặt trước là đầm biển và vách núi Hòn Tre, mặt sau của đình là khu dân cư và vịnh Nha Trang, hồi phải của đình là khu dân cư và núi. Trước sân đình có 2 cây Bàng cổ thụ tán rộng, cùng với lối kiến trúc đặc thù của công trình kiến trúc đình làng ở Nam Trung Bộ, đặc biệt là các công trình đình, đền, miếu mạo ven biển phía Nam tạo cho ngôi đình nét cổ kính, uy nghi.

Từ ngoài nhìn vào di tích có các hạng mục công trình sau: Nghi môn, Võ ca, Tiền tế, Chính điện, lăng Ông, nhà thờ Tiền hiền - Hậu hiền, nhà Đông, nhà Tây.

Đình còn lưu giữ 05 đạo sắc phong do các đời vua triều Nguyễn ( từ vua Đồng Khánh đến đời vua Khải Định ) phong, cho phép nhân dân nơi đây tiếp tục thờ phụng các vị thần tại đình Bích Đầm:
1- Sắc Đồng Khánh thứ 2 (1887), phong cho ông Nam Hải.
2- Sắc Thành Thái thứ 13 (1901), phong cho Thành Hoàng.
3- Sắc Duy Tân thứ 3 (1909), phong cho Thiên Y A Na.
4- Sắc Khải Định thứ 9 (1924), phong cho Thiên Y A Na.
5- Sắc Khải Định thứ 9 (1924), phong cho Thành Hoàng.

Sắc phong của vua Đồng Khánh năm thứ 2 ( 1887) cho thần Nam Hải của đình Bích Đầm 

Trước kia hàng năm dân làng tổ chức “Xuân kỳ Thu tế”, nhưng hiện nay cúng Xuân và cúng Thu hợp nhất lại vào ngày 28 tháng 03 Âm lịch. Trước khi tổ chức tế lễ, có một đoàn ghe thuyền ra biển Đông để nghinh Ông Nam Hải về lăng Ông,  đoàn Bá Trạo hát lễ hầu Ông, tới giờ tốt thì cúng Thành Hoàng, cúng Tiền hiền, Hậu hiền và sau cùng cúng ông Nam Hải. Trong lễ hội thường có hát bội.

Hò bá trạo trong lễ hội cầu ngư tại đình Bích Đầm 

Ghi nhận những giá trị về lịch sử - văn hóa và kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của di tích ở làng đảo Bích Đầm, ngày 20/11/2012, UBND tỉnh Khánh Hòa ban hành Quyết định số 2888/QĐ-UBND xếp hạng đình Bích Đầm là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.

                                                                                                            Hoàng Quý

 
Bài viết được đánh giá:
Tổng số đánh giá:
 

Tin khác

breaker
TRỤ SỞ UỶ BAN NHÂN DÂN CÁCH MẠNG LÂM THỜI HUYỆN BA NGÒI
Di tích Trụ sở UBND Cách mạng lâm thời huyện Ba Ngòi ngày nay thuộc tổ dân phố Xóm Cồn, phường Cam Linh, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Công trình kiến trúc này đã được xây dựng từ những năm 30 của thế kỷ XX và trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử cách mạng đấu tranh dành độc lập dân tộc của nhân dân ta. Trải qua thời gian, cùng với sự bào mòn của thiên nhiên và ảnh hưởng trong quá trình sử dụng nên di tích chỉ còn công trình kiến trúc tương đối nguyên vẹn.
MIẾU BÀ THÁNH MẪU
Miếu Bà Thánh Mẫu thuộc thôn Lạc Lợi, xã Diên Hòa, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Miếu có nhiều tên gọi khác nhau, trong đó có tên gọi gắn với truyền thuyết: xung quanh ngôi miếu có nhiều cây cổ thụ, thỉnh thoảng dân làng thấy khu vực miếu sáng rực, nhất là những đêm diễn ra lễ hội, tại miếu bà con trong vùng thấy những ánh sáng ngũ sắc từ hướng Am Chúa (Diên Điền) bay qua rồi giáng xuống chỗ miếu, sau đó bay qua Suối Đổ hoặc ngược lại, nên dân làng gọi đây là miếu Giáng, có nghĩa Thánh Mẫu Thiên Y giáng lâm vãn cảnh nơi đây.
ĐÌNH ĐỒNG NHƠN
Đình Đồng Nhơn ra đời đến nay khoảng hơn 200 năm, tức là khoảng cuối thế kỷ XVIII. Lúc đầu đình được xây dựng ở phía Đông Bắc làng Đồng Nhơn, trên đất Bà Hàn. Sau đó, đình bị hư hỏng và cũng do không thuận tiện thờ cúng, ông bà Đoàn Văn Bố đã hiến một lô đất cao ráo giữa làng, đóng góp công của để làm lại đình.
ĐÌNH CỬU LỢI
Đình Cửu Lợi nằm giữa thôn Cửu Lợi 3, xã Cam Hòa, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.Theo lời kể của các cụ hào lão: xã Cam Hòa hình thành cách đây khoảng 200 năm, do một số quan lại dưới triều đại phong kiến đưa dân từ Diên Khánh, Thủy Triều đến khai khẩn đất đai và hình thành làng xóm. Làng Cửu Lợi trước đây được gọi là xứ Đồng Bông
ĐÌNH HỘI ĐIỀN
Đình Hội Điền tọa lạc tại thôn Hội Điền, xã Ninh Phú, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Tên gọi “Hội Điền” xuất phát từ việc lấy tên thôn để đặt cho đình. “Hội Điền” mang ý nghĩa là nơi tập hợp, hội tụ của những người làm ruộng vườn. Tên gọi này được giữ nguyên từ khi khởi dựng đình cho tới ngày nay.
ĐÌNH SƠN THẠNH
Đình làng Sơn Thạnh còn có tên gọi khác là đình Lễ Thạnh. Do trước kia Đình Sơn Thạnh thuộc làng Lễ Thạnh; năm 1969, dân làng Lễ Thạnh dời lên thôn Cẩm Sơn, hai thôn Cẩm Sơn và Lễ Thạnh đổi tên thành thôn Sơn Thạnh và đình Lễ Thạnh đổi tên thành Đình Sơn Thạnh từ đó đến nay.
ĐÌNH VĨNH XUÂN
Đình Vĩnh Xuân trước đây là miếu thờ Thiên Y A Na, tồn tại lâu đời trên mảnh đất Vĩnh Xuân, Vĩnh Thái, đã trải qua nhiều thăng trầm cùng cuộc sống của người dân làng Vĩnh Xuân. Xưa kia, nơi đây chỉ là một gò đất cao, có vài nóc nhà tranh tre và người dân địa phương đã dựng lên một ngôi miếu nhỏ bằng tranh tre, nứa lá để thờ Thiên Y A Na, thổ địa với mong muốn phù hộ cho dân làng làm ăn sinh sống.
ĐÌNH VĂN ĐỊNH
Đình Văn Định tọa lạc tại thôn Văn Định, xã Ninh Phú, thị xã Ninh Hòa.\r\nĐình được hình thành khoảng đầu thế kỷ XIX, lúc mới thành lập, đình có tên “Đình làng Văn Hòa”; đến đời vua Tự Đức thứ 33 (năm 1880), làng có tên là Văn Định nên tên đình được gọi là “Đình làng Văn Định”; đến đời vua Thành Thái thứ 2 (1890), gọi là làng/đình “Văn Định Hạ” và từ sau năm 1975 đến nay gọi là làng/đình Văn Định.