Hotline: (0258) 3813 758

ĐÌNH TRÀ LONG

03/07/2018 07:54        
Đọc tin

Đình Trà Long thuộc phường Ba Ngòi, thành phố Cam Ranh.
Khoảng cuối thế kỷ XIX, Cam Ranh vẫn còn là vùng đất hoang sơ, rừng nguyên sinh lấn sát bờ biển. Dân cư chủ yếu là cư dân bản địa người Raglai và một bộ phận người Kinh di cư sống rải rác ở Ba Ngòi, Thuỷ Triều… Theo Địa bạ triều Nguyễn còn lưu giữ ở Trung tâm lưu trữ Quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh lập năm Gia Long thứ 10 (1811), Khánh Hoà có 306 quyển, nhưng các bản năm Tự Đức thứ 26 (1873) chỉ còn 275 quyển, như vậy thất lạc 31 quyển. Cho nên tổng số tên làng xã ở Khánh Hoà đầu thế kỷ XIX còn được biết qua địa bạ là 290 làng xã. Trong địa bạ đó hiện không có tên thôn Mộng Đỗ, huyện Vĩnh Xương. Nhưng hiện nay đình Trà Long còn treo tại miếu thờ Tiền Hiền bức hoành sơn son thếp vàng lập năm Khải Định thứ nhất (1916) ghi lại lịch sử hình thành và phát triển thôn Trà Long. Theo đó tên làng đã được đổi nhiều lần và được ghi cụ thể thời điểm đổi tên gọi. Xưa tên làng là Mộng Đỗ, đến đời vua Minh Mạng thứ 5 (1824) đổi thành làng An Đỗ, đời vua Tự Đức năm thứ 15 (1862) đổi là làng Nhược Đỗ và năm Duy Tân thứ 4 (1910) đổi thành làng Trà Long.
Đình Trà Long khởi dựng khoảng nửa đầu thế kỷ XIX, ở Đồng Lác, là nơi người dân đến khai hoang phát nương làm rẫy. Lúc đó, đình được dựng bằng tranh tre, nứa lá. Sau một thời gian, làng xóm phát triển và dân cư tập trung đông đúc ở khu vực Ba Ngòi, cùng lúc đình bị xuống cấp nên dân làng dời đình về khu đất gần bờ biển (xóm Trà Long cũ – phía nam cầu Trà Long hiện nay). Sau đó, dân làng làm ăn thất bát (đi biển về không, làm nông không mùa) nên đời sống nhân dân ngày càng cơ cực. Vì vậy, các cụ hào lão trong làng cho rằng có thể do phong thuỷ của ngôi đình không tốt: Đình nằm trên gò đất, hướng ra biển, hai bên tả hữu có hai ngòi nước chảy ra biển qua cầu Trà Long và cầu Giữa. Mặt khác, đình nằm xa khu dân cư  không tuận tiện cho việc cúng tế, nên đến năm 1960, đình được di chuyển đến địa điểm hiện nay.
Đình Trà Long thờ: Thành hoàng làng, Thiên Y A Na Thánh Mẫu, Tàng Lang Vương, Tiền hiền, ông Hổ, âm hồn… Đình được 7 lần phong sắc, gồm:
- Sắc phong đời vua Tự Đức năm thứ 5 (1852), phong cho Bổn cảnh Thành hoàng;
- Sắc phong đời vua Tự Đức năm thứ 33 (1880), phong cho Bổn cảnh Thành hoàng;
- Sắc phong đời vua Đồng Khánh năm thứ 2 (1886), phong cho Bổn cảnh Thành hoàng;
- Sắc phong đời vua Duy Tân năm thứ 3 (1909), phong cho Tàng Lang Vương;
- Sắc phong đời vua Khải Định năm thứ 9 (1924), phong cho Bổn cảnh Thành hoàng;
- Sắc phong đời vua Khải Định năm thứ 9 (1924), phong cho Thiên Y A Na.
- Sắc phong đời vua Khải Định năm thứ 9 (1924), phong cho Tàng Lang Vương.
Đình có các công trình kiến trúc chính: Nghi môn, Án phong, Võ ca, Đại đình, miếu Thiên Y A Na, miếu Tiền hiền, miếu ông Hổ, miếu âm hồn, nhà Đông.
Lễ hội cúng Xuân ở đình diễn ra trong dịp tiết Thanh Minh. Ba năm đáo lệ một lần, lễ hội đình làng tổ chức hát bộ. Trong lễ hội có các phần tế lễ:
- Lễ cúng Tiền hiền;
- Lễ cúng Thanh minh;
- Lễ thỉnh sinh;
- Lễ tế thần;
- Lễ tế Thiên Y A Na.
Đình Trà Long là trung tâm sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của nhân dân địa phương. Lễ hội diễn ra ở đình là dịp bà con tổ chức sinh hoạt văn hoá cộng đồng, tưởng nhớ những vị “Tiền hiền khai khẩn, Hậu hiền khai canh”, cầu mong Thành Hoàng làng, Thiên Y Thánh Mẫu… phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt, con em học hành tấn tới. Thông qua lễ hội tình làng nghĩa xóm được tthắt chặt, những truyền thống văn hoá được lưu truyền, bảo tồn cho các thế hệ mai sau.
Ghi nhận những giá trị của di tích, UBND tỉnh Khánh Hòa đã ban hành Quyết định số 2344/QĐ-UBND ngày 21/11/2005 công nhận đình Trà Long là di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh.

Rương gỗ có bánh xe ở đình Trà Long

Nguyễn Thị Hồng Tâm

 

 
Bài viết được đánh giá:
Tổng số đánh giá:
 

Tin khác

breaker
ĐÌNH BÌNH BA
Đình Bình Ba tọa lạc trên một khu đất rộng bằng phẳng của thôn Bình Ba Tây, thuộc xã Cam Bình, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, nằm cách cảng Đá Bạc (Cam Ranh) khoảng 13 hải lý. Đình Bình Ba có niên đại khoảng giữa thế kỷ XIX, trải qua thời gian với những tác động của nhiều nguyên nhân đình bị hư hỏng nặng, năm 1991 trùng tu nhà tiền tế và nghi môn, năm 2009 trùng tu mái hậu điện.
ĐỊA ĐIỂM CHI TÌNH BÁO KHÁNH HÒA TẠI HÒN THỊ
Địa hình Hòn Thị là núi đá nhiều gộp liên hoàn, chiều dài từ đông sang tây khoảng hơn 1.200m. Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, các lực lượng vũ trang và cơ quan dân chính Đảng của tỉnh Khánh Hòa đều đóng ở căn cứ Hòn Hèo; ở Hòn Thị là một bộ phận sản xuất của liên Trung đoàn 80 – 83 và một Tổ may quân trang thuộc Tỉnh đội Khánh Hòa
ĐÌNH PHÚ XƯƠNG
Đình Phú Xương được xây dựng khoảng đầu thế kỷ XIX. Theo các cụ hào lão kể lại: đình Phú Xương xưa thuộc thôn Phú Toàn (sau đổi thành Phú Nhơn, huyện Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa). Đầu tiên đình do năm dòng tộc (Trần, Lê, Nguyễn, Huỳnh, Lâm) trong làng xây dựng tại gò Bà Đỡ (nay là thôn Xuân Ngọc, xã Vĩnh Ngọc) và lấy tên làng Phú Toàn làm tên đình.
ĐÌNH MỸ THANH
Đình Mỹ Thanh được xây dựng khi nào không ai còn nhớ rõ, nhưng căn cứ vào sắc phong hiện còn lưu giữ ở đình, có thể ít nhất đình ra đời khoảng đầu thế kỷ XIX. Lúc đầu, đình có tên là An Mỹ và được làm bằng tranh tre nứa lá, thuộc thôn An Mỹ, huyện Vĩnh Xương.
ĐÌNH ĐẠI ĐIỀN TRUNG
Đình Đại Điền Trung thuộc thôn Đại Điền Trung 2 (Trung 2), xã Diên Điền, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.Dưới triều Nguyễn, Diên Điền ngày nay là một phần của xã Đại An, phủ Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa, đến đời vua Tự Đức (1848 – 1883) dân số xã Đại An tăng lên nên đã được chính quyền địa phương chia thành bốn làng(thôn) thuộc xã Đại Điền: Đại Điền Đông, Đại Điền Tây, Đại Điền Nam, và Đại Điền Trung,
MIẾU BÀ THÁNH MẪU
Miếu Bà Thánh Mẫu thuộc thôn Lạc Lợi, xã Diên Hòa, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Miếu có nhiều tên gọi khác nhau, trong đó có tên gọi gắn với truyền thuyết: xung quanh ngôi miếu có nhiều cây cổ thụ, thỉnh thoảng dân làng thấy khu vực miếu sáng rực, nhất là những đêm diễn ra lễ hội, tại miếu bà con trong vùng thấy những ánh sáng ngũ sắc từ hướng Am Chúa (Diên Điền) bay qua rồi giáng xuống chỗ miếu, sau đó bay qua Suối Đổ hoặc ngược lại, nên dân làng gọi đây là miếu Giáng, có nghĩa Thánh Mẫu Thiên Y giáng lâm vãn cảnh nơi đây.
ĐÌNH ĐỒNG NHƠN
Đình Đồng Nhơn ra đời đến nay khoảng hơn 200 năm, tức là khoảng cuối thế kỷ XVIII. Lúc đầu đình được xây dựng ở phía Đông Bắc làng Đồng Nhơn, trên đất Bà Hàn. Sau đó, đình bị hư hỏng và cũng do không thuận tiện thờ cúng, ông bà Đoàn Văn Bố đã hiến một lô đất cao ráo giữa làng, đóng góp công của để làm lại đình.
ĐÌNH CỬU LỢI
Đình Cửu Lợi nằm giữa thôn Cửu Lợi 3, xã Cam Hòa, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.Theo lời kể của các cụ hào lão: xã Cam Hòa hình thành cách đây khoảng 200 năm, do một số quan lại dưới triều đại phong kiến đưa dân từ Diên Khánh, Thủy Triều đến khai khẩn đất đai và hình thành làng xóm. Làng Cửu Lợi trước đây được gọi là xứ Đồng Bông
ĐÌNH HỘI ĐIỀN
Đình Hội Điền tọa lạc tại thôn Hội Điền, xã Ninh Phú, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Tên gọi “Hội Điền” xuất phát từ việc lấy tên thôn để đặt cho đình. “Hội Điền” mang ý nghĩa là nơi tập hợp, hội tụ của những người làm ruộng vườn. Tên gọi này được giữ nguyên từ khi khởi dựng đình cho tới ngày nay.
TRỤ SỞ UỶ BAN NHÂN DÂN CÁCH MẠNG LÂM THỜI HUYỆN BA NGÒI
Di tích Trụ sở UBND Cách mạng lâm thời huyện Ba Ngòi ngày nay thuộc tổ dân phố Xóm Cồn, phường Cam Linh, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Công trình kiến trúc này đã được xây dựng từ những năm 30 của thế kỷ XX và trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử cách mạng đấu tranh dành độc lập dân tộc của nhân dân ta. Trải qua thời gian, cùng với sự bào mòn của thiên nhiên và ảnh hưởng trong quá trình sử dụng nên di tích chỉ còn công trình kiến trúc tương đối nguyên vẹn.